Rượu tỏi chữa bệnh – món quà vô giá từ…

Đây là một loại thuốc tuyệt vời của nhân loại vì dễ làm, rẻ tiền, không gây phản ứng phụ lại có hiệu quả chữa bệnh cao. 

Cách đây không lâu, tôi tình cờ được một nhà đầu tư chứng khoán quen biết giới thiệu về rượu tỏi. Năm nay, đã gần 70 tuổi nhưng trông ông vẫn còn đạo mạo, da dẻ hồng hào, tinh anh. Ông khẳng định, sức khỏe của ông được như ngày hôm nay là nhờ rượu tỏi.
Cách đây hơn 2 năm, các căn bệnh tuổi già như thấp khớp, cao huyết áp liên tục hành hạ ông. Tuy không phải làm việc nặng nhọc nhưng chân tay cứ nhức mỏi rã rời, không thể nào yên giấc, nhất là những ngày thời tiết thay đổi đột ngột. Bệnh cao huyết áp thì đòi hỏi phải sử dụng thuốc tây liên tục, trong người lúc nào cũng nóng mà bệnh tình không khỏi dứt điểm. Được bạn bè mách về công dụng của rượu tỏi, ông uống thử, sau một tháng thấy cả bệnh thấp khớp lẫn bệnh cao huyết áp giảm đến 90%. Từ đó, ông và cả gia đình cùng duy trì sử dụng rượu tỏi. Đến nay, sức khỏe của ông rất tốt, bệnh cao huyết áp và thấp khớp đã khỏi dứt điểm, ông không còn phải đến “thăm” bác sĩ thường xuyên như trước kia nữa.

Bản thân tôi khi nghe về tác dụng của rượu tỏi thì ngạc nhiên vô cùng, đồng thời cũng hết sức vui mừng vì hy vọng rượu tỏi sẽ làm thuyên giảm chứng mỏi cổ, mỏi vai và lưng do phải ngồi làm việc bên vi tính nhiều. Và tôi đã quyết định ngâm một lọ rượu tỏi để uống thử xem như thế nào. Vì dẫu sao, tỏi cũng là dược liệu tự nhiên, hàng ngày vẫn được sử dụng trong nấu nướng, do đó, nếu không phù hợp với chứng mỏi cơ thì nó cũng không hề gây phản ứng phụ cho cơ thể. Hiện giờ, tôi đã ngâm được một lọ rượu tỏi vàng óng và sử dụng được khoảng 1 tuần. Thêm một lần nữa, rượu tỏi làm tôi thật sự ngạc nhiên, chứng mỏi cơ đã giảm tới 70%.

XUẤT XỨ RƯỢU TỎI

Mới đây, tôi có tìm hiểu và được biết, vào những năm 60-70 của thế kỉ XX, tổ chức Y tế thế giới WHO phát hiện ở Ai Cập- một nước nghèo nàn, khí hậu sa mạc khắc nghiệt nhưng sức khỏe chung của người dân lại vào loại tốt, ít bệnh tật, tuổi thọ tương đối cao. WHO đã có chiến dịch nghiên cứu trên toàn bộ lãnh thổ Ai Cập, đặc biệt là các vùng nông thôn, vùng có khí hậu khắc nghiệt. Cuối cùng, các nhà nghiên cứu (đông nhất là Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản) nhận thấy, ở Ai Cập, nhà nào cũng có một lọ rượu ngâm tỏi để uống. Nhân dân Ai Cập từ bao đời nay vẫn duy trì như vậy.
Ở mỗi vùng có công thức ngâm rượu tỏi khác nhau. Các chuyên gia đã đem những công thức này về nghiên cứu và phân tích, rồi đưa ra một công thức ngâm rượu tỏi đạt hiệu quả chữa bệnh cao nhất, công thức này đã được WHO thông qua và phê chuẩn.
Trong Tỏi Có 2 Chất Quan Ttrọng:
  • Phitoncid là loại kháng sinh thực vật có tác dụng diệt một số vi khuẩn.
  • Hoạt tính màu vàng giúp làm tiêu chất béo dưới dạng cholesterol bám vào thành quách mạch máu, làm cho đường đi của máu từ tim ra & về tim bị nghẽn.
Chính nhờ 02 chất này mà tỏi có tác dụng chữa bệnh cao.
Công Thức Điều Chế
  • Tỏi khô đã bóc vỏ (không sử dụng tỏi tươi) 40gr, thái nhỏ, cho vào một lọ sạch.
  • Rượu nếp (50 độ), lấy 100ml.
  • Ngâm tỏi trong rượu nếp khoảng 10 ngày, thỉnh thoảng lắc lọ để tỏi có thể ngấm đều rượu. Những ngày đầu rượu vẫn nguyên màu trắng, sau dần chuyển sang màu vàng và đến ngày thứ 10 thì chuyển sang màu vàng nghệ. Và lúc này rượu tỏi đã sẵn sàng để sử dụng.
Cách Dùng
  • Mỗi ngày uống 2 lần, vào buổi sáng khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ.
  • Mỗi lần 40 giọt, tương đương với một thìa cà phê nhỏ.
  • Vì lượng rượu tỏi rất ít nên khi uống có thể pha thêm nước sôi để nguội cho thành ngụm dễ uống.
  • 40gr tỏi như thế uống được khoảng 20 ngày thì hết, lại phải ngâm 10 ngày mới uống được, nên phải ngâm 1 lọ gối đầu thì mới có thể uống liên tục.
  • Nên duy trì sử dụng rượu tỏi suốt đời. Người phải kiêng hoặc không uống được rượu vẫn có thể sử dụng vì mỗi lần chỉ uống 40 giọt, là một lượng rượu rất ít, không đáng kể.
Kết Quả Chữa Bệnh
Sau các cuộc hội thảo, tổng kết, đến năm 1980, WHO thông báo: Rượu tỏi chữa được 4 nhóm bệnh:
  • Thấp khớp: sưng khớp, vôi hóa các khớp xương, mỏi xương cốt.
  • Tim mạch: hở van tim, ngoại tâm thu, huyết áp cao, huyết áp thấp.
  • Phế quản: viêm phế quản, viêm họng, hen.
  • Tiêu hóa: ăn khó tiêu, ợ chua, viêm tá tràng, loét dạ dày.
Tới năm 1993, Nhật Bản lại công bố bổ sung thêm hai nhóm bệnh nữa mà rượu tỏi chữa được là:
  • Trĩ nội và trĩ ngoại.
  • Đái tháo đường.
Một Số Lưu Ý
  • Nên tìm mua loại rượu nếp ngon đạt tiêu chuẩn 50 độ trở lên, như vậy, khi ngâm tỏi sẽ cho chất lượng tốt hơn.
  • Rượu tỏi tương đối khó uống. Vì mùi tỏi hăng nồng, uống xong sẽ xộc lên mũi rất khó chịu. Mùi hăng này có thể sẽ làm bạn nhụt chí anh hùng khi phải dùng thần dược thường xuyên. Nên kinh nghiệm bản thân tôi cho thấy, trước khi uống, chúng ta nên chuẩn bị sẵn một viên kẹo, một miếng trái cây, hoặc bất cứ đồ ăn nào mà bạn thích (nhưng nên nhớ chỉ cần 1 ít thôi) để ngay khi uống xong, có thể ăn luôn, như vậy sẽ át được mùi khó chịu của tỏi. Nếu bạn phải kiêng đường trong kẹo thì vẫn có thể sử dụng vì chỉ cần ngậm trong vòng 30 giây, mùi tỏi sẽ hết và bạn không cần tiếp tục ngậm viên kẹo nếu không muốn.
Quả không sai khi gọi rượu tỏi là thần dược. Bài thuốc này vô cùng hiệu quả lại dễ làm. Đặc biệt với người dân Việt Nam, có rất nhiều loại rượu nếp ngon nổi tiếng, còn tỏi thì có quanh năm, chất lượng lại rất tốt nên việc mỗi gia đình đều có thần dược trong nhà là chuyện trong tầm tay. Thiết nghĩ, bài thuốc này cần được phổ biến rộng rãi vì đúng như kết luận của người Nhật: đây là thứ thuốc tuyệt vời nhất của nhân loại vì dễ làm, rẻ tiền, không gây phản ứng phụ, lại có hiệu quả chữa bệnh cao.
Advertisements

Ngâm rượu thuốc như thế nào cho chuẩn?

Theo Đông y, rượu thuốc giúp đưa thuốc vào máu nhanh chóng, có tác dụng dưỡng huyết, bổ huyết, hoạt huyết, hòa huyết và thông kinh mạch. Do ít biến chất, dễ bảo quản, rượu thuốc rất thích hợp cho các bệnh lý mạn tính, phải điều trị dài ngày. 

Để chuẩn bị ngâm rượu thuốc, người dùng cần được khám tỉ mỉ và chẩn đoán bệnh chính xác. Dựa trên kết quả khám, bác sĩ Đông y mới chọn các thứ thuốc phù hợp. Ngay cả khi ngâm thuốc bổ, người cắt thuốc cũng cần nắm được các đặc điểm về tuổi tác, giới tính, thể chất của người dùng, nghĩa là phải xác định được phần nào hư yếu (âm hư, dương hư, khí hư hay huyết hư) và phủ tạng nào cần bồi bổ (tâm, can, tỳ, phế, thận).
Bào chế dược liệu
Dược liệu ngâm rượu nhất thiết phải qua giai đoạn bào chế. Trước hết, cần loại bỏ tạp chất, rửa sạch, sấy khô. Sau đó có thể sao thơm, thái phiến, nghiền nhỏ hay đập vụn… tùy từng vị. Công đoạn này rất quan trọng, quyết định chất lượng của rượu thuốc, giúp cho các hoạt chất được chiết xuất dễ dàng.
Chọn rượu
Loại rượu thường dùng là rượu trắng khoảng 40-60 độ, được cất từ gạo, ngô, cao lương, khoai… Nếu có điều kiện thì chọn loại rượu danh tiếng như Mao Đài, Phượng Tường, Thiệu Hưng, Phần Dương (của Trung Quốc) hoặc Lúa Mới, Làng Vân, Nếp Mới (của Việt Nam). Rượu càng cao độ thì càng dễ chiết xuất hoạt chất từ dược liệu và càng dễ bảo quản. Tuy nhiên, một số loại rượu thuốc do yêu cầu điều chế đặc thù nên có thể dùng loại rượu nhẹ hơn để ngâm.
Tỷ lệ rượu và dược liệu
Lượng rượu nhiều hay ít tùy thuộc vào độ hút nước của dược liệu. Những dược liệu có độ hút nước lớn thì lượng rượu nên cao hơn một chút, tỷ lệ dược liệu/rượu khoảng 1/10. Ngược lại, với những dược liệu ít hút nước thì tỷ lệ này chỉ khoảng 1/5. Có như vậy mới bảo đảm chiết xuất được hết các hoạt chất trong dược liệu, rượu không dễ biến chất và đạt được độ ngon cần thiết.
Cách chế
– Ngâm lạnh: Là cách hay dùng nhất, áp dụng với đa số dược liệu. Cho dược liệu vào trong lọ, bình hoặc hũ, đổ một lượng rượu phù hợp rồi bịt kín lại, đặt ở nơi tối, mát. Ngâm từ 10 đến 15 ngày. Mùa đông có thể ngâm lâu hơn một chút.
– Ngâm nóng: Thường áp dụng cho các dược liệu có cấu tạo rắn chắc, khó chiết xuất và có khả năng chịu nhiệt. Trước hết, người ta cho dược liệu và rượu vào dụng cụ thích hợp, đậy kín, đun cách thủy cho đến khi sôi rồi đổ ngay sang bình ngâm. Đậy kín và tiếp tục ngâm trong 7-10 ngày như ngâm lạnh.
Dân gian còn thực hiện ngâm hạ thổ, nghĩa là chôn bình ngâm đã trát kín xuống đất hàng trăm ngày. Cách này thường áp dụng cho các rượu thuốc có dược liệu là động vật.
Ngoài các phương pháp trên còn có các phương pháp ủ, đun, phun, tôi… nhưng ít được sử dụng.
Cách dùng:
Tùy theo bệnh tình và tính chất, nồng độ của rượu mà uống mỗi ngày 1-3 lần, mỗi lần 10-30 ml. Những người uống được ít hoặc không biết uống rượu thì trước đó nên dùng một chút nước giải khát các loại. Để tăng hiệu quả điều trị, một số loại thuốc cần được đun nóng trước khi uống.
Rượu thuốc có thể được dùng ngoài bằng cách xông, xoa bóp, bôi, đắp, rửa, ngâm… tùy theo bệnh tình, tính chất của rượu và vị trí tổn thương.
Lưu ý: Do rượu thuốc có tính cay, nhiệt nên những người thể chất âm hư, hỏa vượng và bị nhiệt bệnh không nên dùng.

Rượu thuốc có khi thành rượu độc

Rượu thuốc từ xưa đã được ông cha ta sử dụng để chữa một vài loại bệnh, tăng cường sức khỏe và sự dẻo dai. Tuy nhiên việc lạm dụng và sử dụng không đúng cách sẽ có thể mang đến những hậu quả không mong muốn. 

Bị bệnh vì rượu thuốc
Dân gian chúng ta vẫn hay sử dụng các loại rượu thuốc để bồi bổ sức khoẻ. Các loại rượu này có thể được ngâm tẩm với các loại cây con thuốc khác nhau với những mục đích công dụng khác nhau. Nhưng ở một chừng mực nào đó, rượu thuốc có thể gây ra những tác hại như những loại rượu khác.
Ông Nguyễn Văn H., 49 tuổi ở Hưng Yên là một “tửu nhân” của loại rượu này. Vốn là một người thuộc tầng lớp trí thức nên ông rất hay đọc sách báo. Thấy nhiều tài liệu ca ngợi những công dụng tuyệt vời của rượu thuốc, ông thích lắm. Lại được bạn bè mách là cây này, con kia tốt nên ông ra công sưu tầm và ngâm tẩm để hy vọng có thể có được những công dụng “đại bổ”. Ông có đến cả một phòng nhỏ để chứa rượu thuốc. Ông có đủ các loại từ tắc kè, rắn, lô hội, amakong, nhân sâm, linh chi… Thường ngày, hôm nào ông cũng uống, ít thì dăm bảy chén, nhiều thì có khi đến hết nửa chai. Đến cuối tuần lại là dịp để ông thể hiện với bạn bè. Ông lúc nào cũng là thủ lĩnh trong việc sử dụng rượu so với người đồng trang lứa cùng quê. Có lẽ khó mà có thể tìm thấy hôm nào ông không có rượu.
Nhưng hai tháng gần đây ông thấy mình yếu hẳn. Ông không còn dáng đi thần sắc như trước. Người ông lúc nào cũng thấy uể oải. Ăn uống không ngon miệng. Trước ông có thể đánh “bay” 3 bát cơm dễ như không nhưng nay thì phải cố gắng lắm mới được 2 bát, không thì chỉ hơn một bát là cùng. Thấy nước da của ông vàng bệch, sức khoẻ sa sút, trên da nổi nhiều mụn và vết xước, vợ con ông giục ông đi khám. Đến bệnh viện 103, ông được các bác sỹ ở đây chỉ định làm xét nghiệm “men gan” vì ông bị nghi ngờ viêm gan. Kết quả, men gan của ông cao hơn bình thường gấp 4-5 lần. Ông được chẩn đoán là viêm gan do rượu và bắt buộc phải điều trị. Trên thực tế, bổ từ rượu chưa thấy đâu, nhưng gan của ông đã bị viêm đến mức phải can thiệp điều trị
Sử dụng rượu thuốc đúng cách.
Rượu thuốc được bào chế trên nguyên tắc sử dụng rượu làm dung môi để ngâm tẩm những thảo dược nhằm chiết xuất ra những hoạt chất sinh học trong những thảo dược này có tác dụng với sức khoẻ và chữa bệnh. Nhưng việc bào chế và sử dụng rượu thuốc cần có sự hướng dẫn của bác sỹ y học cổ truyền. Bởi lẽ, nếu không làm đúng quy chuẩn thì nồng độ hoạt tính có thể không được như mong muốn. Và mặc dù được công nhận là một phương thức điều trị hoặc hỗ trợ điều trị nhưng nếu sử dụng bừa bãi hoặc theo cảm tính thì có thể gánh lấy những hậu quả do chính rượu thuốc gây ra.
Khi sử dụng rượu thuốc quá liều thì chúng ta có thể bị những biến chứng bệnh lý như rượu thông thường. Viêm loét dạ dày, viêm gan, viêm tụy cấp là những căn bệnh thường gặp trong trường hợp này. Ở một khía cạnh khác, người bệnh có thể bị chứng nghiện rượu, loạn thần do rượu. Run tay, run chân, sức khoẻ suy giảm, chán ăn, tiêu hoá kém, đầy bụng, tiêu chảy, thay đổi tính tình, tư duy kém minh mẫn là những biểu hiện dễ thấy của chứng lạm dụng này. Khi có một hoặc nhiều các dấu hiệu trên thì nên đi khám để được xác định.
Không thể phủ nhận những tác dụng mà rượu thuốc có thể có nhưng cũng không phải vì thế mà chúng ta sử dụng không lưu ý. Nếu bạn là người có khả năng dung nạp thì mỗi bữa không quá một chén nhỏ và một ngày không quá ba chén nhỏ. Lượng rượu này đủ để tạo ra những tác dụng dược lý. Tốt nhất là không nên sử dụng nếu không có chỉ định y tế. Đặc biệt, những người có bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, những người bị viêm gan nhiễm mỡ, loạn thần thì tuyệt đối không sử dụng, dù đó là rượu thuốc

Một số loại rượu thuốc thông dụng

Rượu thuốc được sử dụng rất lâu đời trong y học phương đông, nhất là dùng những con vật chế biến thành những loại rượu bổ thận tráng dương, chữa đau lưng, nhức mỏi, tăng cường sinh lực… vẫn được chú trọng, một số loại điển hình dưới đây:

RƯỢU TẮC KÈ

Phương thuốc: Tắc Kè (1 đực, 1 cái) 50g, đảng sâm 80g, huyết giác 10g, trần bì 10g, tiểu hồi 10g, đường cát 40g, rượu nếp 400 2 lít.
Cách bào chế:
Dùng tươi: Chặt bỏ đầu từ 2 mắt trở lên, bỏ 4 bàn chân, lột da, mổ bụng, bỏ nội tạng, nướng thật vàng thơm, nhớ giữ còn đuôi.
Dùng khô: Mổ bụng, bỏ hết phủ tạng, lau sạch bằng giấy bản tẩm rượu. Đem phơi hay sấy khô.
Khi dùng nhúng vào nước sôi, cạo sạch lớp vảy ở lưng, chặt bỏ đầu từ dưới 2 mắt trở lên và 4 bàn chân. Tẩm rượu (hoặc mật ong) nướng cho vàng đều. Ngâm 2 con trong 1 lít rượu gạo 40 độ, 100 ngày mới được dùng.
Thành phần bài rượu Tắc kè trên ngâm chung trong 30 ngày. Lọc bỏ cặn lắng, đậy kín, uống dần.
Cách dùng: Mỗi lần uống 1 ly nhỏ (30ml). Ngày 3 lần trước bữa ăn.
Công dụng: Bổ phế, bình suyễn, bổ thận tráng dương.
Chủ trị: Thận dương suy kém, đau lưng mỏi gối, tiểu đêm, hen suyễn (thể hư hàn).
RƯỢU BÌM BỊP
Phương thuốc: Bìm bịp (1 đực, 1 cái) 100g, tắc kè (1 đực, 1 cái) 50g, rượu nếp 40 độ 2 lít.
Cách bào chế:
Bìm bịp làm thịt, bỏ lông, ruột, chặt bỏ móng, đem ngâm rượu, ngâm 2 tháng.
Cách dùng: Mỗi lần uống 1 ly nhỏ (30ml). Ngày 3 lần trước bữa ăn.
Công dụng: Bổ thận tráng dương.
Chủ trị: Chữa đau lưng, suy nhược tuổi già.
RƯỢU HẢI MÃ
Phương thuốc: Hải mã (sao vàng, giã nát) 50g, Nhân sâm 20g, Lộc nhung 20g, Dâm dương hoắc 20g, Ba kích 50g, Long nhãn 30g, Đỗ trọng 20g, Ngưu tất 20g, Câu kỷ tử 20g, Phá cổ chỉ 10g, rượu gạo 40 độ 5 lít.
Cách bào chế:
Mổ bỏ nội tạng, phơi hay sấy khô. Bảo quản nơi khô ráo, đậy kín, tránh sâu mọt. Khi dùng tẩm rượu sao giòn, tán nhỏ.
Rượu Hải mã ngâm trong 15 ngày. Cứ 5 ngày khuấy lắc một lần. Chiết lấy rượu thuốc, ép bã thuốc cho ra hết rượu. Để 2 ngày cho lắng cặn, lọc lấy rượu, đậy kín dùng dần.Cách dùng: Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 ly nhỏ (30ml), trước bữa ăn.
Công dụng: Bổ Thận tráng dương (mạnh sinh lý, kích thích sự giao hợp, kéo dài thời gian giao hợp). Điều khí hoạt huyết.
Chủ trị: Liệt dương, di tinh, thần kinh yếu, hư suyễn. Phụ nữ hiếm muộn, khi sinh mệt yếu, thai ra khó.
Kiêng kỵ: Phụ nữ có thai.
– Âm hư hỏa vượng (nóng sốt, bứt rứt, váng đầu, hoa mắt…).
RƯỢU RẮN (TAM XÀ TỬU)
Phương thuốc: Rắn hổ mang (1 con) 200g, Hà thủ ô đỏ 80g, Rắn ráo (1 con) 200g, Cẩu tích 80g, Rắn cạp nong (1con) 200g, Kê huyết đằng 120g, Ngũ gia bì 80g, Thiên niên kiện 80g, Tiểu hồi 30g, Trần bì 30g, đường cát trắng 600g, rượu gạo 40 độ 5 lít, cồn thực phẩm 60 độ 5 lít.
Cách bào chế:
Rắn được lột da, chặt đầu, bỏ ruột và lấy riêng mật. Chặtổắn thành từng khúc rồi tẩm gừng, tẩm rượu ngâm ngay hoặc sấy khô. Ngâm trong 100 ngày với 5 lít cồn 6 độ cùng với vỏ quít, tiểu hồi tán thành bột, 10 ngày khuấy một lần. Sau 100 ngày gạn, ép, lọc. Hoặc người ta chỉ bỏ lòng ruột rồi để nguyên con xếp tròn trong bình để ngâm rắn.
Dược liệu: Cẩu tích đốt cháy lông, thái nhỏ cùng với các dược liệu còn lại tán thành bột ngâm với 5 lít rượu gạo 40 độ trong 10 ngày, khuấy hàng ngày rồi gạn, ép, lọc.
Dùng nước nấu cho đường tan ra, để nguội sao cho lượng nước đường với hai dịch ngâm trên vừa đủ 10 lít. Để lắng 2 ngày, gạn, lọc, đậy kín trong bình.
Cách dùng: Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 ly nhỏ (30ml) trước bữa ăn.
Công dụng: Rắn các loại dùng thịt để khu phong, hoạt lạc, giảm đau. Nọc độc của rắn làm thuốc giảm đau (không uống).
Chủ trị: Rượu tam xà tửu chữa tê thấp và đau nhức khớp xương, nhức gân, cơ, bán thân bất toại, chân tay đổ mồ hôi. Còn dùng cho người già yếu, lao động nhiều, đau nhức gân xương khi thời tiết thay đổi.
Kiêng kỵ: Phụ nữ có thai không dùng.
(còn tiếp nhé, các bạn hãy đón chờ công thức những loại rượu thuốc ở amthuc365 trong các bài tiếp sau nhé!)
Tổng hơp Ngọc Bích
amthuc365.vn

Những sai lầm khi sử dụng rượu thuốc

Khi sử dụng rượu thuốc, đôi khi chúng ta mắc phải những sai lầm căn bản và rất nguy hiểm nhưng lại chẳng hề hay biết. 

Uống rượu thuốc không cần kê đơn
Vì rượu thuốc cũng là dược phẩm nên khi dùng phải tuân thủ nguyên tắc: Đúng bệnh, đúng người và đúng liều lượng, không được tùy tiện và thái quá. Nếu để trị bệnh, trước hết người bệnh phải được thầy thuốc chuyên khoa khám tỉ mỉ và chẩn đoán chính xác, sau đó mới chọn phương và bào chế rượu thuốc cho phù hợp. “Cùng là bệnh liệt dương, nhưng với những người thuộc thể bệnh âm hư thì loại dược tửu chọn dùng hoàn toàn khác so với thể bệnh dương hư… Nếu để bồi bổ với mục đích bảo vệ và nâng cao sức khỏe thì cũng phải căn cứ vào các đặc điểm của người dùng như tuổi tác, giới tính, thể chất… Chỉ trên cơ sở chẩn bệnh một cách biện chứng mới có thể lựa chọn và điều chế rượu thuốc phù hợp và có chất lượng. Ngược lại, nếu chẩn bệnh sai thì khi dùng sẽ không có tác dụng, thậm chí có thể gây hại”, Lương y Vũ QuốcTrung phân tích.
Rượu rắn là thần dược bổ dương
Rượu rắn thường được dân gian ca tụng là loại thuốc bổ rất nhiều tác dụng thì không phải ai cũng dùng được. Theo BS Nguyễn Xuân Hướng, Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam, lâu nay người dân hay đồn thổi uống rượu rắn giúp bổ dương nhưng đây là quan niệm sai lầm. Rượu rắn chủ yếu chữa chứng phong, không bổ gì và không điều trị được thấp. Việc ngâm rượu rắn phải được sự chỉ định của thầy thuốc, nếu người dùng tự ngâm thì không ít trường hợp sẽ lợi bất cập hại. Ngay cả chuyện ngâm bìm bịp cả con còn nguyên lông, cá ngựa, tay gấu, bào thai hươu… cũng chỉ mang thêm bệnh vào người. Một số vị thuốc tốt nhưng phải biết kết hợp với bài thuốc nào để tốt hơn.
Rượu lọc – lấy độc trị độc
Với các con vật cũng cần phải lưu ý không ngâm động vật có nọc độc vào trong rượu để uống bởi chúng sẽ dẫn đến suy hô hấp, tím tái thân thể, ngưng thở và tử vong. “Đó là chưa kể việc người dân không tuân thủ đúng quy trình bào chế động vật để ngâm rượu. Tay gấu, tay hổ, bìm bìp… khi ngâm rượu để cả lông sẽ rất mất vệ sinh, người uống có thể bị tiêu chảy. Người uống rượu ngâm nhung hươu không được cạo sạch lông có nguy cơ bị viêm ruột. Việc sử dụng thịt, bộ phận sống của các động vật quý hiếm ngâm rượu sẽ không có gì bảo đảm là tốt cho sức khỏe bởi thịt sống sẽ bị phân hủy vào trong rượu, uống rất mất vệ sinh. Vì vậy việc ngâm tất cả các loại cây, loại con vật quý bổ cần có bài bản và hướng dẫn của thầy thuốc”- bác sĩ Hướng cảnh báo.
Dùng rượu như món chiêu đãi
Có rất nhiều người sử dụng rượu thuốc ngâm các loài động vật quý hiếm để chiêu đãi bạn bè và họ thả sức uống. Nhưng với những loại rượu thuốc thường chỉ được uống với liều lượng rất ít, nếu uống tràn lan cũng có thể gây nguy hại đến sức khỏe. Mỗi ngày chỉ nên uống các loại rượu ngâm tối đa là 20 ml, uống vào buổi tối là tốt nhất. Không nên uống rượu thuốc vào buổi sáng vì lúc này, đàn ông thường trong thể trạng dương khí vượng, uống vào sẽ khiến dương khí bị tản, lặp lại nhiều lần sẽ làm cho người chóng già, sinh bệnh. Ngoài ra, những người bị bệnh gan, thận, cao huyết áp, tim mạch, đái tháo đường… không được uống rượu ngâm, kể cả rượu ngâm các loài động vật quý hiếm.
Tổng hợp Ngọc Bích
amthuc365.vn

Nhập môn rượu thuố – phần 2

Để nhập môn dược tửu thành công, ngoài các khái niệm cơ bản, bạn còn phải lắm chắc các nguyên tắc sau 

Vì rượu thuốc cũng là dược phẩm nên khi dùng phải tuân thủ nguyên tắc: đúng bệnh, đúng người và đúng liều lượng, không được tùy tiện và thái quá. Nếu để trị bệnh thì trước hết người bệnh phải được thầy thuốc chuyên khoa khám tỉ mỉ và chẩn đoán chính xác, sau đó mới chọn phương và bào chế cho phù hợp. Ví như, cùng là bệnh Dương nuy (liệt dương), nhưng với những người thuộc thể bệnh Âm hư thì loại dược tửu chọn dùng hoàn toàn khác so với thể bệnh Dương hư… Nếu để bồi bổ với mục đích bảo vệ và nâng cao sức khỏe thì cũng phải căn cứ vào các đặc điểm của người dùng như tuổi tác, giới tính, thể chất… Nghĩa là, phải xác định được phần nào trong cơ thể bị hư yếu (âm hư, dương hư, khí hư hay huyết hư) và tạng phủ nào cần bồi bổ (tâm, can, tỳ, phế, thận…) để từ đó chọn phương, lựa dược cho thích đáng. Chỉ trên cơ sở chẩn bệnh một cách biện chứng mới có thể lựa chọn và điều chế rượu thuốc phù hợp và có chất lượng; Ngược lại, nếu chẩn bệnh sai thì khi dùng sẽ không có tác dụng, thậm chí có thể gây hại.
Rượu bổ âm: Là loại rượu dùng cho những người bị bệnh thuộc thể Âm hư hoặc có thể chất thiên về âm hư, biểu hiện bằng các chứng trạng như người gầy, miệng ráo, họng khô, hay hoa mắt chóng mặt, mất ngủ, hay mộng mị, ra mồ hôi trộm, lòng bàn tay và bàn chân nóng, hay có cảm giác sốt nóng về chiều, gò má đỏ, di tinh, ù tai, đại tiện táo, tiểu tiện lượng ít sắc vàng, lưỡi khô đỏ, ít hoặc không có rêu…
Ví dụ: Thần tiên diên thọ tửu, Thiên môn đông tửu, Tang tằm tửu (rượu tằm), Địa hoàng tửu, Địa hoàng thủ ô tửu, Tư âm dưỡng huyết tửu, Hà thủ ô tửu, Kỷ tử tửu, Ô tu tửu (rượu làm đen râu tóc), Bồ đào tửu (rượu nho)… Những người có chứng dương hư không nên dùng loại rượu này.
Rượu bổ dương: Còn gọi là rượu trợ dương, tráng dương hoặc khởi dương, là loại rượu dùng cho người bị bệnh thuộc thể Dương hư hoặc có thể chất thiên về dương hư, biểu hiện bằng các chứng trạng như hay sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng bệch, mệt mỏi như mất sức, dễ đổ mồ hôi, hay có cảm giác khó thở, ngại nói, miệng nhạt, không khát, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng nát, hay bị cảm lạnh, di tinh, liệt dương, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng…
Ví dụ: Minh mạng tửu, Lộc nhung tửu (rượu nhung hươu), Hải cẩu thận tửu, Ba kích tửu, Dâm dương hoắc tửu, Dương cao tửu (rượu thịt dê), Dương thận tửu (rượu cật dê), Trợ dương tửu, Hổ cốt tửu, Cáp giới tửu (rượu tắc kè), Hải mã tửu (rượu cá ngựa)… Những người có chứng âm hư không nên dùng các loại rượu này.
Rượu bổ huyết: Là loại rượu dùng cho những người bị bệnh thuộc thể Huyết hư hoặc có thể chất thiên về huyết hư, biểu hiện bằng các chứng trạng như sắc mặt nhợt nhạt, hay hoa mắt chóng mặt, tim hồi hộp, mất ngủ, tay chân tê bì, phụ nữ kinh nguyệt không đều, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng… Ví dụ: Tang thầm tửu (rượu dâu), Từ quốc công tiên tửu (rượu long nhãn), Đương quy tửu, Hà thủ ô tửu, Kê huyết đằng tửu, Diên linh tửu, Trú nhan tửu, Nguyên thầm tửu, Từ quốc công tiên tửu…
Rượu bổ khí: Là loại rượu dùng cho những người bị bệnh thuộc thể Khí hư hoặc có thể chất thiên về khí hư, biểu hiện bằng các chứng trạng như tinh thần mỏi mệt, khó thở, ngại nói, sắc mặt trắng nhợt, đầu choáng mắt hoa, hay hồi hộp trống ngực, dễ đổ mồ hôi, ăn kém chậm tiêu, đại tiện lỏng, tiểu tiện trong dài, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng…Ví dụ: Nhân sâm tửu, Đẳng sâm tửu, Tây dương sâm tửu, Sâm truật tửu, Hoàng kỳ tửu, Bạch truật tửu, Nhân sâm cố bản tửu, Hoàng tinh tửu…
Tuy nhiên, trên thực tế, bệnh trạng thường đan xen với nhau nên người ta hay phối hợp các loại rượu để tạo nên công dụng song bổ. Ví như, các loại rượu Ích thọ tửu, Cố bản địa hoàng tửu, Khước lão tửu, Trường xuân tửu, Bổ khí dưỡng huyết tửu, Dưỡng vinh tửu, Sâm quy tửu, Nhân sâm câu kỷ tửu, Diên thọ tửu, Bát trân tửu, Thập toàn đại bổ tửu, Phù nhược tiên phượng tửu… thường là sự kết hợp giữa thuốc bổ âm và bổ dương, hoặc bổ khí và bổ huyết.

Nhập môn rượu thuốc – phần 1

Dược tửu (rượu thuốc) vốn là một chế phẩm độc đáo của y học cổ truyền mang lại nhiều lợi ích cho sức khẻo con người. Tuy nhiên nếu không hiểu rõ về rượu thuốc mà lạm dụng dùng bừa bãi thì không những “tiền mất” mà còn “tật mang”. Trước khi sử dụng rượu thuốc, bạn hãy chắc chắn rằng đã tìm hiểu những điều cơ bản nhất về nó nhé. 

Rượu thuốc là gì?
Rượu thuốc là những chế phẩm lỏng được điều chế bằng phương pháp chiết xuất các dược liệu thảo mộc hoặc động vật với rượu nhằm mục đích điều trị hoặc bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Dùng rượu thuốc để chữa bệnh và bồi bổ gọi là Dược tửu liệu pháp.
Trong thành phần của rượu thuốc có khi chỉ có một vị (rượu đơn) nhưng thường thì có khá nhiều vị được phối hợp với nhau để phát huy cao nhất tác dụng của thuốc (rượu kép). Công lực của dược tửu phụ thuộc vào hai nhân tố là rượu và thuốc.
Việc lựa chọn các vị thuốc khác nhau sẽ tạo ra những loại rượu có tác dụng không giống nhau nhưng vai trò của rượu thì không thể thiếu, bởi lẽ, nói như cổ nhân “rượu đứng đầu trăm thứ thuốc”, “rượu có công dụng tuyên tán dược lực, ôn thông khí huyết, sơ kinh hoạt lạc, có thể đạt tới tứ chi bách hài, ngũ tạng lục phủ”.
Rượu thuốc có từ bao giờ
Trong văn tự giáp cốt (chữ viết trên xương và mai rùa) thời cổ ở Trung Quốc có chép “ngâm thuốc vào rượu”, đó là nói đến loại rượu thuốc có hương vị thơm ngon dùng vào việc cúng tế và chữa bệnh. Hai phương rượu thuốc sớm nhất được ghi trong các y thư cổ là “Kê thỉ lễ” (Nội kinh) và “Hồng lam hoa tửu” (Kim quỹ yếu lược).
Các sách thuốc kinh điển khác như Thương hàn tạp bệnh luận, Trửu hậu bị cấp phương, Thiên kim phương, Thái bình thánh huệ phương, Thánh tễ tổng lục… đều đã đề cập đến rượu thuốc trên mọi phương diện, trong đó đặc biệt là cuốn Bản thảo cương mục đã ghi lại kinh nghiệm sử dụng men rượu, rượu trắng, rượu nho, bã rượu, rượu ủ… trong hầu hết các chuyên khoa lâm sàng như nội khoa, ngoại khoa, nhi khoa, phụ khoa và ngũ quan khoa.
Các loại rượu thuốc
Có đến hàng nghìn phương rượu thuốc. Nếu căn cứ vào số vị thuốc trong phương, có thể chia ra làm hai loại: rượu đơn (độc vị) và rượu kép (đa vị).
Nếu căn cứ vào công dụng, có thể chia ra làm hai loại lớn: rượu bổ và rượu bệnh; hoặc chia ra làm nhiều loại khác nhau như rượu khu phong, rượu kiện tỳ, rượu bổ gân cốt, rượu thanh nhiệt lợi thấp, rượu giải cảm, rượu an thần, rượu bổ huyết, rượu bổ khí, rượu bổ dương, rượu bổ âm…;
Nếu căn cứ vào cách dùng có thể chia ra làm hai loại: rượu uống trong và rượu dùng ngoài…

Hướng dẫn cách ngâm rượu rắn

Rắn cung cấp nhiều bộ phận làm thuốc: thịt, mật, nọc, xác lột. Đông y thường dùng thịt, mật, xác lột để ngâm rượu. 

Mật rắn (xà đởm): Không có vị đắng, phối hợp với nhiều vị thuốc khác để chữa ho, vết đau bầm tím, đau lưng nhức mỏi…
Xác rắn (xà thoái): Tính bình không độc, vị ngọt mặn vào can kinh khu phong, tan mộng chữa chứng kinh phong của trẻ em, sát trùng đau cổ họng, ghẻ lở…
Nọc rắn độc (nazatox): Lưu ý nọc rắn rất độc có thể gây chết người vì vậy cần cẩn trọng.
Cách ngâm rượu rắn như sau:
Để ngâm rượu thường chia thành bộ 3 con hoặc bộ 5 con; bộ 3 gồm hổ mang, cạp nong, rắn ráo; bộ 5 gồm hổ mang, cạp nong, rắn ráo, hổ trâu, rắn ba chỉ.
Chế rượu rắn có nhiều cách: ngâm tươi hoặc ngâm khô, nhưng theo kinh nghiệm của cổ nhân thì ngâm tươi vẫn là tốt nhất. Sau đây amthuc365 xin phép được hướng dẫn cả 2 cách.
Cách ngâm rượu 1: Ngâm khô:
Lột da mổ bỏ ruột, có người chặt bỏ đầu đuôi (hoặc để cả con cũng được), rửa bằng rượu gừng hoặc rượu quế rồi lấy giấy bản thấm sạch, chặt từng khúc sấy khô hoặc nướng cho vàng tán nhỏ ngâm với rượu 40o theo tỷ lệ 1 phần rắn 3 phần rượu, thời gian từ 15 ngày trở lên là được. Uống hằng ngày sau ăn bữa tối 20ml, phụ nữ có thai không dùng.
Có thể chế rượu rắn với các vị thuốc: Rắn 1 bộ, thiên niên kiện 100g, cẩu tích 100g, huyết giác 100g, ngũ gia bì 100g, hà thủ ô đỏ 100g, kê huyết đằng 180g, trần bì 30g, tiểu hồi 20g, quế chi 10g, rượu 40o vừa đủ 10 lít.vvv
Cách ngâm rượu 2:  Ngâm tươi
Rắn còn sống cho vào bình đã đổ đầy cồn hoặc rượu trắng 40 độ, ngâm trong 24 giờ cho rắn chết và tiết hết chất độc. Tiếp đó, đổ bỏ rượu, lấy rắn ra chặt bỏ đầu đuôi, mổ bỏ ruột (trừ mật), để nguyên da rồi lại cho vào bình đã đổ ngập rượu trắng 40 độ, bịt kín miệng bình, để nơi thoáng mát, ngâm đủ ít nhất là 100 ngày. Cũng có người cho rằng đem cả bình rượu chôn sâu xuống đất chừng 30 cm thì hay hơn. Khi ngâm đúng cách và đủ thời gian thì rượu thường có màu vàng hơi xanh và có mùi thơm.
Tổng hợp Nghique
amthuc365.vn

Rượu sữa ong chúa

Sữa ong chúa tăng cường khả năng sinh dục và sinh sản, nâng cao sức đề kháng và miễn dịch của cơ thể. Nếu dùng liều cao, nó sẽ có tác dụng an thần, phòng chống mất ngủ. 

Sữa ong chúa là gì?
Đây là một loại dịch đặc biệt, do tuyến họng của ong thợ tiết ra. Ấu trùng được nuôi bằng loại dịch mật này sẽ trở thành ong chúa, sống lâu gấp 50 lần ong thợ. Đây cũng là thức ăn của ong chúa nên được gọi là sữa ong chúa.
Mật ong thường và sữa ong chúa rất khác nhau. Mật ong thường không có các axit vô cơ, dextrin hay tinh bột chỉ có một số đường, axit hữu cơ và các men tiêu hóa. Trong sữa ong chúa, tỷ lệ đường ít hơn, có nhiều chất mỡ, chất đạm và các vitamin hơn mật ong thường.
Xưa nay nói đến sữa ong chúa, người ta thường nghĩ đến khả năng cải thiện tình dục và chữa chứng bất lực ở nam giới, cải thiện sự cương cứng và phóng tinh; gia tăng số lượng và chất lượng tinh trùng. Những nghiên cứu gần đây cho thấy sữa ong chúa còn có rất nhiều tác dụng khác: Chống lão hóa, chống ung thư và phóng xạ; nâng cao năng lực tư duy và trí nhớ; tăng cường sức co bóp của cơ tim; thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục của cơ thể; hạ huyết áp và phòng chống tích cực vữa xơ động mạch; cải thiện công năng tạo máu của tủy xương; thúc đẩy sự phục hồi chức năng của các cơ quan như gan, thận, thần kinh.
Sữa ong chúa tăng cường khả năng sinh dục và sinh sản, nâng cao sức đề kháng và miễn dịch của cơ thể. Nếu dùng liều cao, nó sẽ có tác dụng an thần, phòng chống mất ngủ.
Rượu sữa ong chúa
Sữa ong chúa không uống riêng do vậy thường được chế thêm với rượu trắng tạo thành rượu sữa ong chúa vô cùng bổ dưỡng. Khi dùng thường theo cách phối hợp 1% sữa ong chúa với mật ong hoặc có thể thêm rượu trắng. Trẻ dưới 5 tuổi uống 5 mg/ngày; 5-10 tuổi uống 10 mg/ngày; trên 10 tuổi: 20 mg/ngày, chia làm hai lần sáng và chiều. Thời gian tác dụng sau uống 4 tuần, liệu trình uống một đợt có thể kéo dài 6-10 tuần.
Bảo quản: Trong tủ lạnh (ngăn đá) có thể dùng một năm. Trộn sữa ong chúa với mật ong theo tỷ lệ 5 phần sữa ong chúa và 95 phần mật ong.
Cách dùng: Có thể uống, nhỏ giọt dưới lưỡi, bôi bên ngoài, thậm chí tiêm bắp. Thông dụng nhất là uống, tùy theo mục đích sử dụng mà liều lượng uống có khác nhau.

Rượu ngâm ong

 Là loại rượu được ngâm với các bộ phận của tổ ong, có thể ngâm với ong đất hay ong bò vẽ, có thể ngâm nguyên cả mảng sáp tổ ong với mật, phấn hoa, nhộng và con ong hoặc ngâm con ong riêng. 

Rượu thuốc là hình thức dùng rượu làm dung môi, để hòa tan (chiết xuất) các hoạt chất trong vị thuốc. Dân ta dùng 100-150 con ong vò vẽ, bỏ cánh, ngâm trong rượu 40-45 độ. Để rượu chừng 100 ngày rồi lấy ra uống mỗi tối một chung hạt mít. Rượu này chữa đau khớp. Chỉ có một điểm lưu ý là nọc ong độc nên người suy thận không được dùng. Tuy nhiên ong bầu và ong vò vẽ đều chữa đau nhức khớp tốt.
Các bộ phận của tổ ong có thể dùng làm rượu thuốc
Rượu ngâm ong có công dụng bổ trung, nhuận phế trừ ho, nhuận tràng thông tiêu, chỉ thống giải độc, dùng để bổ dưỡng và chữa các chứng bệnh như ho, táo bón, viêm loét dạ dày – tá tràng, viêm loét miệng, bỏng, ngộ độc ô đầu… Sáp ong có tác dụng bổ dưỡng, tăng sức và kích thích tiêu hóa.
Sáp ong được dùng để chữa trĩ ra máu (kết hợp với nha đam tử), ung nhọt (làm viên phèn phi nấu với sáp ong để uống), chữa bỏng (làm thuốc dán), chữa viêm họng, bí tiểu tiện. Phấn hoa có công dụng ích khí dưỡng huyết, bổ thận điền tinh, được dùng làm thuốc bổ, nâng cao sức đề kháng cho những người bị suy nhược cơ thể, tâm tỳ hư suy, thận tinh bất túc, liệt dương, suy giảm khả năng tình dục, muộn con, đáo tháo đường, ung thư tuyến tiền liệt…
Sữa ong chúa là thuốc bổ dưỡng cao cấp, dùng cho người mới ốm dậy, người già yếu, trẻ em suy dinh dưỡng, phụ nữ sau khi sinh bị thiếu máu, ít sữa, kém ăn, mất ngủ, chữa các bệnh lý như thấp khớp, hen suyễn, sởi, tăng huyết áp, viêm gan virut, suy nhược thần kinh, liệt dương, Parkinson, nhiễm phóng xạ, tàn nhang, trứng cá, viêm da mủ, mụn nhọt…
Tổ ong có công dụng thanh nhiệt giải độc, khứ phong tiêu thũng, sát khuẩn, được dùng để trị kinh giản, co giật, bệnh phong, nhũ ung, đinh độc, lao hạch, phong tý, trĩ, lỵ, liệt dương, mụn nhọt…
Sau đây là một số loại ong thường được dùng để ngâm rượu.
Ong bầu: theo y học cổ truyền, con ong bầu có thể chữa bệnh động kinh, phong ngứa, nhức mỏi, đau khớp. Đây cũng là lý do khiến nhiều người dân huyện Củ Chi, TP.HCM, đổ xô đi săn ong bầu bán bất chấp bị gai đâm, ong chích. “Con ong bầu rất độc, chích trái bầu, trái bí nào là thối liền trái đó nhưng ngâm rượu uống lại chữa được bệnh đau lưng, nhức mỏi”.
Ong đen: ong đen được sử dụng rộng rãi hơn trong đông y và trong dân gian. Ong đen còn có tên là ong vò vẽ (bò vẽ), ong mướp, ô phong, hùng phong, tượng phong… Tên chính thức trong đông y Trung Quốc là trúc phong, tên khoa học là Xylocoba dissimilis (Lep). Ngoài con ong đen trên, người ta còn dùng ong đen Xylocopa phalothorax nhỏ hơn, nhưng không dùng con có đốm trắng ở đầu.
Ong đen sống khắp nơi. Tại miền nam Trung Quốc người ta thường bắt ong này vào mùa thu đông, là mùa ong sống trong ống tre, ống nứa. Sau khi biết ong ở đâu, người ta nút kín ống tre hay ống nứa lại, hơ nóng cho ong chết, sau đó chẻ ra lấy ong dùng. Ong đen phải sấy cho khô, không nên phơi nắng dễ hỏng và dễ mốc, mọt hơn.
Theo đông y, ong đen có vị ngọt chua, tính hàn, không độc, vào hai kinh vị và đại trường. Có tác dụng thanh nhiệt, tả hỏa, trừ phong. Dùng trong những trường hợp sâu răng, miệng lở loét, đau cổ họng, trẻ con kinh phong…
Tổng hợp Nghique
amthuc365.vn